Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu tham dự tại điểm cầu Hội trường Diên hồng. Ảnh: TTXVN
Dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương có các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.
Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu tham dự tại điểm cầu Hội trường Diên hồng. Ảnh: TTXVN
Hội nghị được kết nối từ điểm cầu phòng họp Diên Hồng (Nhà Quốc hội) tới hơn 36.323 điểm cầu trong cả nước là các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương; các ban, bộ, ngành, đơn vị Trung ương và các điểm cầu cấp cơ sở trên cả nước, với gần 2,2 triệu cán bộ, đảng viên tham dự.
Hội nghị được phát trực tiếp trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số để nhân dân cả nước theo dõi.
Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa XIV) - điểm cầu Hội trường Diên hồng. Ảnh: TTXVN
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Trần Đức Thắng dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương.
Dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Trọng Đông; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Phùng Thị Hồng Hà; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy; Thường trực HĐND, UBND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố...
Các đồng chí lãnh đạo thành phố dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội
Tại điểm cầu xã Xuân Mai có Đồng chí Hoàng Minh Hiến, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã; đồng chí Nguyễn Hồng Phong, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã; các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ xã, Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND xã, ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam xã; tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thuộc xã; Bí thư Đảng ủy, Bí thư Chi bộ trực thuộc, Tập thể cấp ủy, Đảng viên Đảng bộ UBND xã, Đảng bộ các cơ quan Đảng, Chi bộ Quân sự xã, Chi bộ Trạm Y tế xã.
Các chi bộ trực thuộc đã tổ chức cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân theo dõi trực tiếp trên các kênh, sóng của Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số. Qua tổng hợp xã Xuân Mai có gần 1.400 cán bộ, Đảng viên tham gia học tập, nghiên cứu Nghị quyết.
Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu xã Xuân Mai.
Cán bộ, đảng viên và nhân dân theo dõi trực tiếp qua các kênh, sóng.
Tại hội nghị, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước quán triệt 5 chuyên đề: Quy định thi hành Điều lệ Đảng; Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng; Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới; Kết luận về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".
Những điểm mới then chốt trong Quy định thi hành Điều lệ Đảng
Mở đầu hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc đã trình bày Chuyên đề “Quy định thi hành Điều lệ Đảng” giới thiệu những nội dung cốt lõi của Quy định số 20-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng ban hành ngày 8-4-2026, thay thế Quy định số 294-QĐ/TW trước đây.
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh Quang Thái
Quy định được xây dựng trên cơ sở bám sát Điều lệ Đảng, kế thừa những nội dung thực tiễn đã chứng minh hiệu quả; đồng thời bổ sung nhiều quy định mới đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới.
Theo Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc, Quy định gồm 33 mục, trong đó giữ nguyên 12 mục và sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung liên quan đến công tác đảng viên, tổ chức Đảng và hoạt động của cấp ủy.
Nổi bật là các quy định về trình độ học vấn của người vào Đảng; thời hạn tổ chức lễ kết nạp, công nhận đảng viên chính thức; công tác quản lý, sử dụng thẻ đảng viên; quy chế làm việc của cấp ủy; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; số lượng ủy viên ban thường vụ; thành phần đoàn chủ tịch đại hội; tài chính của Đảng…
Một điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung các quy định thí điểm nhằm phù hợp với mô hình tổ chức sau sắp xếp. Trung ương cho phép thí điểm lập Đảng bộ khối doanh nghiệp ngoài nhà nước ở cấp xã, phường, đặc khu để giảm đầu mối trực thuộc, tạo thuận lợi cho cấp ủy cơ sở trong lãnh đạo, chỉ đạo. Đồng thời, thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho một số Đảng ủy đủ điều kiện nhằm tăng cường phân cấp, giảm thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý công việc.
Quy định cũng trao thẩm quyền cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định thành lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc phù hợp với thực tiễn tổ chức bộ máy mới; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương giới thiệu chuyên đề "Quy định thi hành Điều lệ Đảng". Anh: Phương Hoa - TTXVN
Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc cũng cho biết, một nội dung mang tính nền tảng là tạo cơ sở chính trị đẩy mạnh chuyển đổi số trong Đảng. Quy định bổ sung việc số hóa, quản lý hồ sơ đảng viên điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu đảng viên tập trung và chuyển sinh hoạt Đảng trên môi trường số. Những nội dung này mở đường cho hiện đại hóa quản lý đảng viên, tăng tính minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao khả năng kết nối giữa các cấp ủy.
Trong công tác cán bộ, quy định bổ sung thẩm quyền cho cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định nhân sự khi chi bộ khuyết cấp ủy; cho phép chỉ định người đứng đầu cơ quan làm bí thư cấp ủy; thí điểm việc chỉ định đồng thời nhân sự tham gia nhiều cấp ủy theo cơ cấu để giảm bớt quy trình, thủ tục, bảo đảm sự lãnh đạo liên tục, kịp thời.
“
Đáng chú ý, Quy định thống nhất nhiệm kỳ chi bộ 5 năm bắt đầu từ nhiệm kỳ 2025 - 2030, tạo sự đồng bộ trong toàn hệ thống tổ chức Đảng, thuận lợi cho xây dựng chương trình công tác dài hạn và nâng cao tính ổn định trong lãnh đạo.
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc đề nghị các cấp ủy khẩn trương quán triệt, cụ thể hóa quy định thành các hướng dẫn, quy trình thực hiện thống nhất trong quý II-2026; đẩy mạnh chuyển đổi số; rà soát, kiện toàn tổ chức, nhân sự; mạnh dạn đề xuất thí điểm mô hình mới phù hợp thực tiễn, bảo đảm quy định sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.
K iểm tra, giám sát - kiểm soát quyền lực từ sớm, từ xa
Quán triệt chuyên đề “Những vấn đề mới, cốt lõi của Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 7-4-2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11-4-2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”, đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương cho biết, việc ban hành đồng bộ hai văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo bước phát triển mới về tư duy, phương thức và hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN
Theo Chủ nhiệm UBKT Trung ương Trần Sỹ Thanh, trên cơ sở tổng kết hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, Nghị quyết số 05-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu “toàn Đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát”, không khoán trắng cho cơ quan kiểm tra; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu, gắn công tác kiểm tra, giám sát với công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh quán triệt chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: TTXVN
Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là chuyển mạnh từ “phát hiện, xử lý vi phạm” sang “phòng ngừa, cảnh báo sớm”, tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay từ đầu nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm ngay từ khi mới manh nha; đồng thời vừa xử lý nghiêm sai phạm, vừa phát hiện, bảo vệ, khuyến khích các nhân tố tích cực, cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Các đại biểu dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Quang Thái
Về mục tiêu, Nghị quyết xác định nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu lực quản trị quốc gia.
Các đại biểu dự tại điểm cầu phường Hoàn Kiếm. Ảnh: Quang Thái
Để thực hiện mục tiêu đó, Nghị quyết đề ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó tập trung vào: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, đảng viên; hoàn thiện đồng bộ hệ thống quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đổi mới tư duy, phương pháp kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bản lĩnh, liêm chính, chuyên sâu; và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Quy định số 21-QĐ/TW được ban hành đồng bộ đã cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết với nhiều điểm mới quan trọng. Theo Chủ nhiệm UBKT Trung ương Trần Sỹ Thanh, Quy định bổ sung cơ chế phối hợp giữa UBKT với các cơ quan công an, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án; mở rộng thẩm quyền, cho phép kết nối, khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra, giám sát; hoàn thiện quy định về giải quyết tố cáo, thi hành kỷ luật và phân cấp thẩm quyền rõ ràng hơn, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Chủ nhiệm UBKT Trung ương Trần Sỹ Thanh cho biết, hai văn bản đã tạo bước chuyển căn bản từ tư duy đến phương thức và công cụ kiểm tra, giám sát, khẳng định vai trò là công cụ sắc bén để kiểm soát quyền lực từ sớm, từ xa, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của nhân dân và góp phần thúc đẩy phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Giữ vững “bốn kiên định” trong công tác chính trị, tư tưởng
Tiếp đó, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết trình bày chuyên đề “Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng”.
Các đại biểu dự tại điểm cầu phường Tây Hồ. Ảnh: Quang Thái
Đồng chí Trịnh Văn Quyết cho biết, Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được kết cấu gồm 5 chương, 16 điều chặt chẽ, khoa học, bao quát toàn diện các nội dung cốt lõi. Tinh thần xuyên suốt của Quy định là chuẩn hóa, ràng buộc trách nhiệm, kiểm soát bằng kết quả, đo lường bằng hiệu quả thực chất.
Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, Quy định xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng là toàn bộ các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong Đảng, không có ngoại lệ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ bắt buộc, không có “khoảng trống”, đối với mọi tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên.
Về mục đích, Quy định nhằm hướng tới xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và cán bộ; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực công tác và khả năng thích ứng của cán bộ, đảng viên trước những biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...
Quy định xác lập hệ thống nguyên tắc kiên định là bất biến, đổi mới là yêu cầu tất yếu, chủ động dẫn dắt là phương thức hành động, chi phối toàn bộ công tác chính trị, tư tưởng.
Nổi bật là giữ vững “bốn kiên định”, trong phát biểu kết luận bế mạc Hội nghị Trung ương 2, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh “4 kiên định” về chính trị, tư tưởng để giữ vững bản sắc, bứt phá trong kỷ nguyên mới: Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Kiên định đường lối đổi mới của Đảng; Kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đây chính là quan điểm chính trị, sự kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn...
Các đại biểu dự tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Quang Thái
Về nội dung công tác chính trị, tư tưởng, Quy định mở rộng và nâng tầm nội hàm công tác chính trị, tư tưởng, chuyển từ “tuyên truyền một chiều” sang “quản trị, dẫn dắt và định hình nhận thức trong kỷ nguyên số”; làm rõ chỉnh thể thống nhất gồm hai cấu phần: Công tác chính trị, tập trung vào giữ vững định hướng chính trị trong toàn bộ hoạt động của Đảng; mọi chủ trương, quyết sách phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc; gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng Đảng, phòng chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Công tác tư tưởng tập trung vào đổi mới phương thức giáo dục lý luận chính trị, tạo thống nhất nhận thức và hành động; tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận; xây dựng văn hóa Đảng, đạo đức, lối sống; nắm, định hướng và dẫn dắt dư luận xã hội; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng...
C hống tham nhũng bằng giải pháp tổng thể
Trình bày Chuyên đề “Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới” tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí cho biết, chuyên đề tập trung ba nội dung: Kết quả 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X và bài học kinh nghiệm; những vấn đề trọng tâm, cốt lõi, nội hàm mới của Nghị quyết; yêu cầu trong tổ chức thực hiện.
Trưởng ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh Hồ Long
Theo Trưởng ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí, qua 20 năm, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được lãnh đạo, chỉ đạo kiên trì, quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, với quyết tâm chính trị cao, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, đạt nhiều kết quả quan trọng.
Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng được tăng cường, kiểm soát quyền lực ngày càng chặt chẽ; xử lý đồng bộ kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và hình sự. Công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng ngày càng bài bản, hiệu quả hơn; quan điểm xử lý chuyển từ nghiêm khắc đơn thuần sang nghiêm minh, nhân văn, thuyết phục, chú trọng phân loại, phân hóa đối tượng, khuyến khích khắc phục hậu quả, qua đó nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản thất thoát.
Việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong khối Nội chính và chủ trương xét xử vắng mặt đối tượng bỏ trốn ra nước ngoài đã góp phần khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, khẳng định quyết tâm không bỏ lọt tội phạm. Cùng với đó, chủ trương xử lý dứt điểm các dự án yếu kém, tháo gỡ vướng mắc các dự án, đất đai liên quan kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án đã có hiệu lực đã xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý, góp phần khơi thông nguồn lực cho phát triển.
“
Từ thực tiễn, nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra là: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh và giữ vững thành quả; đặt công tác này dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực để chuyển mạnh sang phòng ngừa; phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và nhân dân, chú trọng phòng, chống “tham nhũng vặt” ở cơ sở.
Trưởng ban Nội chính Trung ương cũng cho biết, Nghị quyết mới xác định mục tiêu phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải đồng hành với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững. Quan điểm xử lý sai phạm nhấn mạnh: Nghiêm minh, kịp thời, nhân văn, xem xét bối cảnh cụ thể, ưu tiên thu hồi tài sản, khuyến khích khắc phục hậu quả, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Các đại biểu dự tại điểm cầu xã Thuận An. Ảnh: Quang Thái
Trọng tâm giải pháp là phòng ngừa từ gốc với các yêu cầu “không muốn, không thể, không dám, không cần” tham nhũng; hoàn thiện thể chế, minh bạch, kiểm soát quyền lực; xây dựng văn hóa liêm chính; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, công khai, minh bạch, kiểm soát tài sản, thu nhập. Đồng thời, yêu cầu tạo chuyển biến mạnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là với các nguồn lực vật chất, thời gian, cơ hội phát triển.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh trách nhiệm trực tiếp của cấp ủy, tổ chức Đảng và người đứng đầu; khuyến khích, bảo vệ người chủ động phát hiện, xử lý sai phạm; phát huy giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận và nhân dân.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị đã ban hành kế hoạch với các nhiệm vụ, lộ trình, sản phẩm cụ thể; yêu cầu các cấp ủy chủ động triển khai ngay từ cơ sở, tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, bảo đảm Nghị quyết đi vào cuộc sống với kết quả thực chất.
Khơi thông nguồn lực, đổi mới mô hình phát triển
Quán triệt chuyên đề “Kết luận số 18-KL/TW, ngày 2-4-2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng ‘2 con số’”, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Kết luận là bước cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân trong việc tạo đột phá phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: Hồ Long
Theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, giai đoạn 2021-2025, mặc dù bối cảnh thế giới và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, đất nước vẫn đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng phục hồi tích cực, đạt và vượt phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu, quy mô nền kinh tế được mở rộng, đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Tuy nhiên, nền tảng kinh tế chưa thực sự vững chắc; năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh còn hạn chế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa thực sự trở thành động lực chủ yếu cho tăng trưởng.
Các đại biểu dự tại điểm cầu xã Ô Diên. Ảnh: Quang Thái
Bước vào giai đoạn 2026-2030, Trung ương xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đưa đất nước trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới vào năm 2030, bảo đảm các cân đối lớn và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.
Kết luận xác định các quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, trong đó nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đổi mới mạnh mẽ quản trị, nâng cao năng lực thực thi; hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả mọi nguồn lực; gắn tăng trưởng kinh tế với ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và phát triển bền vững.
Kết luận đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại; chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ rào cản, giảm chi phí tuân thủ; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia, bảo đảm an toàn nợ công và sử dụng hiệu quả đầu tư công theo hướng tập trung, trọng tâm, trọng điểm, tạo lan tỏa lớn, dẫn dắt đầu tư xã hội.
Theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, tổ chức thực hiện là khâu quyết định, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu, phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, gắn rõ trách nhiệm, rõ lộ trình, rõ kết quả… qua đó tạo chuyển biến thực chất, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm
Phát biểu kết luận tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu đặt ra qua hội nghị hôm nay là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực phát triển trong toàn xã hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh 5 vấn đề cần thực hiện trong thời gian tới.
Thứ nhất: Phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.
Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng...
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Thứ hai: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững.
Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai nhà nước.
Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.
Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đặc biệt, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.
Thứ ba: Kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển.
Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.
Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn “hướng Đông - tỏa Tây”, “trục Bắc - Nam liền dải”- đó là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc - Nam như dải xương sống của cơ thể con người.
Từ nền tảng đó, mỗi quyết định phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.
Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, phải đảm bảo tự chủ.
Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.
Một dự án tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.
Thứ tư: Giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân, đảm bảo mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.
Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.
Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.
Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.
Thứ năm: Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Sau gần một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt, và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.
Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên suốt, đó là: “Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống”. Năm 2026, Trung ương đã xác định là “Năm cán bộ cơ sở”, từng cơ sở phải thay đổi.
“Các cấp ủy, tổ chức Đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn.
Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ luật và có hiệu quả.
Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.
Gắn học tập với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai
Phát biểu kết thúc hội nghị, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết khẳng định sau thời gian làm việc với tinh thần nghiêm túc, khẩn trương, trách nhiệm cao, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.
Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trân trọng cảm ơn và nghiêm túc tiếp thu đầy đủ những ý kiến chỉ đạo sâu sắc, toàn diện, mang tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Đồng chí Trịnh Văn Quyết khẳng định đây là những định hướng quan trọng góp phần cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV vào Nghị quyết Trung ương 2, đồng thời là cơ sở để các cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, bảo đảm tính thực chất.
Nhấn mạnh nhiệm vụ thời gian tới, đồng chí Trịnh Văn Quyết đề nghị các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị tiếp tục tổ chức phổ biến, quán triệt sâu rộng các nghị quyết, kết luận, quy định của Trung ương theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; gắn việc học tập với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc triển khai nghị quyết được thực hiện đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ với Bộ Chính trị theo quy định.