Toàn cảnh ngôi Đình Xuân Mai
Trải qua hàng nghìn năm sinh sống và đấu tranh chống ngoại bang, các bậc tiền nhân đã để lại trên đất Thăng Long – Hà Nội hàng nghìn di tích lịch sử - Văn Hóa. Tại các ngôi Đình và Đền là nơi thờ những người có công khai hoang lập ấp, các anh hùng văn hóa, anh hùng liệt quốc và các vị tổ nghề... mà công thành danh trạng của các vị gắn liền với sự nghiệp giữ nước an dân.
Căn cứ vào các di vật hiện còn lưu giữ tại di tích và truyền thuyết dân gian cho biết thì Đình Xuân Mai là nơi phụng thờ nhị vị thành hoàng là: Ninh Vũ Đại Vương và Nga Lăng Công Chúa. Sự tích của các vị này có thể tóm Tắt như sau:
Xưa, ở bộ Ninh Hải có nhà họ Dương, húy là Thượng Đường, vợ là Quỳnh Thị Luyến, tính vốn hiền lành, nhân hậu, tích điều nhân, sớm chiều thắp hương, Kính dâng thượng đế tam sinh hương hỏa, phong lưu, giàu có. Vào ngày 10 tháng giêng, bà Quỳnh Thị mộng thấy ánh sáng đỏ tỏa đầy nhà. Một lát có một người đi bộ đến, tự xưng là sứ giả của Thiên Vương, tay cầm một bông hoa sen kết hạt đưa cho bà Quỳnh. Bà chắp hai tay vái và đỡ lấy bông hoa, rồi sứ giả bay lên không. Bà Quỳnh tỉnh dậy kể lại, ông Đường biết là thần nhân báo mộng.
Từ đó bà có thai, được hơn một năm, đến ngày mồng 5 tháng 3 năm Mùi thì bào thai chuyển động, ngày mồng 6 thì sinh một người con trai, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, khác với người thường, mọi người đều đến chúc mừng. Được 1 tháng thì đặt tên là Viết Điển, ngày thường ngồi yên trong phòng học chữ, viết sách không cần
người dạy, càng giỏi về đàn sáo, tinh thông âm luật. Đến khi lớn lên binh thư, cung nỏ không điều gì là không biết.
Hồi đó có Thục Phán, hiệu là An Dương Vương, định báo thù cho cha, ông hun đúc nhuệ khí, chiêu tập dũng binh. Ngày 15 tháng 4 Vương mộng thấy một người mặc áo xanh, cầm long bài và một tờ lệnh ghi "Ninh Hải Dương Viết Điển" quỳ ở sân thưa rằng: Hùng Quốc mạt vận, Hoàng Thiên muốn cứu Vương, ta đến báo cho đại quân, Ngài nên mộ cho được người tên là Dương Viết Điển thì có thể được vẹn toàn. Nói xong bay vụt lên không. Thục Vương tỉnh dậy hội họp quần thần sai người đến vùng Ninh Hải tìm tới trang Ninh Vũ mộ quân. Hồi đó Ninh Vũ Vương đã 27 tuổi, chưa có vợ con, lấy nghề cung nỏ: thấy sứ giả đến ông nói: Lâu nay tôi cũng mộ quân làm kế sinh nhai, may sao có chủ quân chiêu tập, hẹn sau 3 ngày tôi sẽ đến bái kiến. Sứ giả về báo tin cho Thục Vương mừng lắm. Sau 3 ngày Vương sai đem binh mã dựng cờ để nghênh tiếp. Viết Điển y theo lời hẹn đến ra mắt. Thục Vương tiếp kiến, hỏi họ tên, quê quán ra sao. Ông trả lời đúng y như Thục Vương đã mộng thấy. Vương mở tiệc rượu mời, hỏi về gia cảnh, ông thưa thực rằng: Vợ con chưa có, công danh chưa đạt, Thục Vương bèn gọi con gái của người anh họ tên là Nga Lăng gả cho làm vợ. Còn về công danh thì Thục Vương phong cho làm Đại Tổng Binh Nguyên Soái.
Sau khi đẹp duyên cùng công chúa Nga Lăng, ông định xuất binh, vào ngày 15 tháng 8 ông cho dựng cờ, phát súng lệnh. Đến ngày 16 xuất quân. Lúc đó, biên cương có thư báo cấp, Duệ Vương lệnh họp bách quan triều thần, nghe tin vị nguyên soái (tức Viết Điển) xuất quân, lên đường đánh giặc: Mọi người đều dốc lòng thán phục. Duy có Tản Viên Sơn Thánh can rằng: Thần nghe nói vận nước đã hết, vận trời mới mở mà để xảy ra chiến tranh thì thần cũng lấy làm hổ thẹn. Nhưng làm trái với thiên thời, cử người đi đánh dẹp thì thần không dám làm. Vả lại vị quan đó có phép tiên, chi bằng ta trao nước cho họ để vui vẻ cho tâm hồn không nhuốm bụi trần, trên con đường đi tới niết bàn đó là trí rất cao vậy. Duệ Vương nghe nói thế bèn giảng hòa nhường nước của mình cho Thục Vương , rồi cùng Sơn Thánh bay vào không trung.
Thục Vương rất cảm kích bèn dưng miếu thờ Duệ Vương bên sườn núi Hùng, sai bách quan đến tế lễ cho vận nước được dài lâu.
Thục Vương lấy được nước rồi, bèn rời đến thành Cổ Loa, huyện Phong Khê, phong cho Viết Điển làm Ninh Vũ Hầu. Thục Vương tiến hành xây thành , cứ xây lên lại đổ, nhờ có sứ Thanh Giang đội hình kim quy (rùa vàng) đến giúp mà thành được vững chắc. Trước khi ra về sứ thần lại cho Vương một chiếc móng để làm nỏ thần (Linh nỏ), có giặc đến bắn một phát giết được ngàn tên. Nhờ vậy đất nước rất thái bình.
Truyền rằng Nga Lăng Công Chúa là con của Thục Kinh (Dương Vương), mẹ là Ma Thị. Công chúa sinh ngày 10 tháng 2 năm Tân Dậu, mặt tươi như hoa, da trắng như phấn, mịn màng tươi mát, đôi mắt sâu thẳm như sóng mùa thu, dung nhan chim sa cá lặn, hoa thẹn trăng mờ, ngọc thua, thật xinh đẹp biết nhường nào. Ngày đẹp duyên cùng tướng quân sinh 3 trai 6 gái, thọ 83 tuổi. Mất ngày 14 tháng 8. Ninh Vũ Đại Vương làm quan được 47 năm, thọ 79 tuổi, mất ở kinh thành, được mai táng theo nghi lễ quốc tế. Thục Vương sai quan đến tế lễ, lệnh cho quan viết sắc phong thần hiệu, ban cho dân xây dựng miếu thờ, cấp cho ấp thang mộc và ghi vào tự điển để nhớ công ơn của Đại Vương. Quan bộ lễ đến quận Quốc Oai, triệu tập các cụ phụ lão ở trang Nhuận Trạch đến nhận 2 đạo sắc và ban cho 15 nén bạc để xây miếu thờ phụng Đại Vương và công chúa cùng sắc phong :
Đương cảnh thành hoàng Dực bảo Trung hưng Ninh Vũ Đại Vương. Đương cảnh thành hoàng Cảnh thị Uy linh Nga Lăng Công Chúa.
Về sau, nhân dân trang Nhuận Trạch đều tôn phong các vị thành hoàng để tỏ rõ sự linh nghiệm phù giúp cho dân làng. Trong văn bia " Chư hậu bia ký" dựng tháng giêng năm Kỷ Mão niên hiệu Duy Tân 9 (1914 ) hiện đang lưu giữ tại Đình còn ghi:
" Ngàn năm còn để lại ánh sáng Vạn đời như vẫn hiển hiện.
Tấm lòng của các vị tiên linh cốt chăm lo cho gốc vững, rễ bền đó chính là chí hướng của những người nhân ái…. Chẳng phải vô cớ khi mà chiến tranh qua đi, thời đại biến đổi… thì ngựa chẳng phải phục nơi đầu núi, mà trâu bò lại nhởn nhơ nơi bãi cỏ mùa xuân… dựng lại bia đá để ghi rõ việc thờ cúng những dịp xuân thu, báo đáp công đức của các vị tiên linh."
Ngoài nhị vị thành hoàng được thờ chính thì Đình Xuân Mai còn là nơi phối thờ các vị tiên linh. Đây là những người góp công, góp của cho đình và dân làng. Theo quy định của dân thôn, mỗi khi làng vào đám và các ngày tuần tiết thì dân làng phải phối thờ và hưởng linh các vị này là:
+ Tiên linh Nguyễn Quý Công, huý Bá Đường, hiệu Phúc Quang phủ quân (giỗ ngày 29 tháng 9)
+ Tiên linh Đinh Tướng Công được Hoàng triều Gia Long sắc thụ chức Tuyên uý, huý Thế Định phủ quân (giỗ ngày 10 tháng 10)
+ Tiên linh Đỗ Quý Công, huý Cát phủ quân (giỗ ngày 03 tháng 11)
+ Tiên linh nhà vợ cả Đỗ Quý Công, hiệu Từ Nhân nhụ nhân (giỗ ngày 20 tháng 11)
+ Tiên linh Nguyễn Quý Công, huý Phúc phủ quân (giỗ ngày 23 tháng 10)
+ Tiên linh vợ cả Nguyễn Quý Công, hiệu Từ Nhân nhụ nhân (giỗ ngày 28 tháng 4)
+ Tiên linh Nguyễn Quý Công, huý Công Dụng, hiệu Phúc phủ quân (giỗ ngày 29 tháng 10)
+ Tiên linh vợ cả Nguyễn Quý Công, hiệu Từ Tâm nhụ nhân (giỗ ngày 08 tháng 3)
+ Tiên linh Nguyễn Quý Công, hiệu Phúc Thiện phủ quân (giỗ ngày 30 tháng 3)
+ Tiên linh vợ cả Nguyễn Quý Công, hiệu Diệu Đình nhụ nhân (giỗ ngày 03 tháng 3)
+ Tiên linh Nguyễn Quý Công, huý Vịnh, hiệu Trực ? phủ quân (giỗ ngày 19 tháng 8)
+ Tiên linh vợ cả Nguyễn Quý Công, hiệu Diệu nhụ nhân (giỗ ngày ?)
+ Tiên linh Nguyễn Quý Công, huý Khang, hiệu Thuần Nguyên phủ quân (giỗ ngày 17 tháng 3)
+ Tiên linh vợ cả Nguyễn Quý Công, hiệu Diệu nhụ nhân (giỗ ngày rằm)
Đình Xuân Mai, xã Xuân Mai cũng như nhiều di tích tín ngưỡng ở các vùng quê, là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của dân làng nên các ngày sóc, vọng hàng tháng, các ngày lễ tế như Nguyên đán, thượng nguyên, đoan ngọ…. Người dân thôn Xuân Mai đều thành tâm có lễ dâng lên đức thành hoàng. Lễ chay hay mặn tùy tâm. Mỗi khi trong gia đình có công việc, các gia đình cũng có lễ trình với thành hoàng cầu mong sự phù trợ.
Hàng năm làng tổ chức tế lễ thành hoàng từ ngày 14 – 16 tháng 2 âm lịch.
Bắt đầu từ ngày 14, thôn làm lễ mở cửa đình, sau đó là lễ "mộc dục" để phong mã. Nước dùng trong lễ này được lấy từ giếng nước đình làng, sau đó đun sôi và pha với trà hương. Đến giờ làm lễ, các cụ hương lão và cụ từ dùng khăn màu trắng vải bông nhúng nước để bao sái long ngai, bài vị. Sau lễ, số nước và khăn dùng để chia lộc và tưới cây.
Trong suốt thời gian diễn ra hội làng truyền thống gồm ba buổi tế: Tế nhập tiệp, tế chính tiệp và tế lễ hạ. Mỗi lần tế gồm năm tuần, tuần 1 là nhang nến, tuần 2 là rượu trầu, tuần 3 là hương hoa, tuần 4 là đọc chúc, tuần 5 là tế nước.
Theo định kỳ 5 năm tổ chức lễ hội truyền thống có rước kiệu trong ngày hội. Trên kiệu đặt bài vị của thành hoàng làng và đồ lễ, (lễ vật dâng lên đức thành hoàng trong các ngày từ 14 – 16 tháng 2 âm lịch, thường lễ vật là cỗ mặn làm từ thịt lơn và xôi, oản, quả như nhau). Đoàn kiệu đi theo hướng từ tây sang đông. Thứ tự của đoàn rước kiệu như sau: Đi đầu là đội múa lân, ông dẫn tế, Long Đình tiếp theo là kiệu tám, sau đó tới kiệu bốn, nam thanh nữ tú ăn mặc quần áo rước.
Ngoài sân đình là các trò vui như chọi gà, kéo co, đánh cờ bỏi… Các buổi đêm là ca hát được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, vui vẻ.
Về giá trị lịch sử:
Di tích Đình Xuân Mai là một công trình kiến trúc tâm linh tờ Thành Hoàng làng. Đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của một cộng đồng làng xã. Trải qua quá trình tồn tại trong lịch sử, thời gian và chiến tranh đã làm cho quy mô kiến trúc và vẻ đẹp cổ kính của Đình không còn lưu giữ được nguyên vẹn, song tự nó vẫn là vốn cổ hòa chung trong kho tàng di sản văn hóa nước nhà.
Dù đi đâu, về đâu, dù ở cương vị nào người dân Xuân Mai vẫn hướng về mái Đình như một trung tâm đoàn kết cư dân, như một trung tâm bảo lưu những nét đẹp truyền thống của địa phương. Mái đình, cây cổ thụ, giếng cổ… đã đi sâu vào tâm trí họ, giúp họ vượt lên trên những khó khăn của cuộc sống hiện tại mà hướng tới những giá trị Chân – Thiện – Mỹ.
Về giá trị kiến trúc nghệ thuật :
Đình Xuân Mai ngày nay không còn giữ được cấu trúc, cảnh quan ban đầu, nhưng di tích vẫn mang đặc trưng kiến trúc truyền thống qua kết cấu bộ khung và khoảng cách của giọt gianh các nếp nhà.
Nổi bật ở di tích là giá trị nghệ thuật thể hiện qua hệ thống các di vật gỗ chạm của đình rất phong phú như: hương án, cửa võng, cuốn thư… đã tôn thêm vẻ đẹp của kiến trúc đình. Các di vật này được chạm khắc khá tinh xảo các đề tài trang trí truyền thống. Ngoài giá trị thẩm mỹ , các hiện vật trên là minh chứng cho khả năng, truyền thống, sáng tạo nghệ thuật của dân tộc ta. Bên cạnh đó các đề tài trang trí còn là nguồn tư liệu quý cho việc tìm về những quan niệm, tư tưởng vũ trụ quan truyền thống.
Quét mã QR để tìm hiểu thêm về ĐÌnh Xuân Mai
Hệ thống các di vật gỗ chạm như: câu đối, hoành phi.. của di tích Đình Xuân Mai đã góp phần làm tăng thêm vẻ thâm nghiêm của kiến trúc.
Cùng một số các di vật là nguồn sử liệu để xác định vị trí, vai trò của di tích nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của địa phương.
Về giá trị văn hóa khoa học:
Ngoài những nét đẹp và giá trị riêng di tích Đình Xuân Mai còn mang giá trị chung trong tổng thể hệ thống các di tích trong vùng. Với một cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và mang đậm không gian văn hóa truyền thống, di tích Đình Xuân Mai đã và sẽ là tuyến tham quan du lịch hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế trong những ngày nghỉ cuối tuần: khu nghỉ dưỡng tắm nóng lạnh Kim Bôi. Nơi khởi đầu tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử hay hướng lên vùng tây bắc lịch sử và giàu tiềm năng.
Đình Xuân Mai là di tích có giá trị nhiều mặt, cần được trân trọng, gìn giữ và phát huy giá trị. Với cộng đồng dân cư làng xã, Đình là nơi duy trì củng cố mối quan hệ cộng động, nơi bảo tồn, giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và tôn thêm vẻ đẹp của kiến trúc xóm làng.
Ngày 30-03-2010 Đình Xuân Mai được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa
Việc gìn giữ bảo lưu và phát huy giá trị của di tích Đình Xuân Mai là biểu hiện sự trân trọng những di sản văn hóa của dân tộc. Đồng thời góp phần giáo dục và phát huy truyền thống tốt đẹp của Ông, Cha, truyền lại cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Mỗi người dân Xuân Mai phát huy truyền thống Cha Ông vượt qua mọi khó khăn, thử thách đoàn kết chung tay chăm lo bảo tồn gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của di tích nói riêng và xây dựng mảnh đất Xuân Mai thân yêu của chúng ta ngày càng giàu đẹp, văn minh, thân thiện, tiến bộ và phát triển.