Nhưng trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, hội nhập quốc tế sâu rộng và những biến đổi nhanh chóng của đời sống hiện đại, yêu cầu đặt ra đối với văn hóa hôm nay không còn dừng ở việc gìn giữ, bảo tồn đơn thuần mà phải thực sự trở thành động lực phát triển quốc gia. Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã cho thấy một tầm nhìn mới, tư duy mới và những yêu cầu cao hơn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Lễ hội truyền thống thôn Nhân Lý.
Điểm dễ nhận thấy nhất ở Nghị quyết 80 là cách tiếp cận mang tính cụ thể, thực chất và định lượng rõ ràng. Nếu trước đây nhiều nghị quyết về văn hóa chủ yếu dừng ở định hướng chung thì lần này, các mục tiêu được gắn với chỉ tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực. Đó không chỉ là sự thay đổi về phương pháp quản lý mà còn phản ánh quyết tâm đưa văn hóa trở thành lĩnh vực có thể đo đếm hiệu quả bằng những giá trị phát triển thực tiễn.
Trong đó, mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa được xác định với kỳ vọng đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và hướng tới 9% vào năm 2045; đồng thời hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Cùng với đó là yêu cầu bảo đảm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tiếp tục tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Những con số ấy cho thấy văn hóa không còn đứng ở vị trí "bổ trợ", mà đang được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển chiến lược của quốc gia.
Đằng sau những chỉ tiêu cụ thể ấy là một tư duy mới: đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho tương lai dân tộc. Khi văn hóa được đặt đúng vị trí, nó không chỉ góp phần xây dựng con người mà còn tạo ra sức cạnh tranh mềm của quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa.
Một trong những nội dung xuyên suốt của Nghị quyết 80 là khẳng định con người vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa. Đây không phải là luận điểm mới, nhưng điều đáng chú ý là nghị quyết đã đặt vấn đề này trong những thách thức rất cụ thể của xã hội hiện đại.
Những năm gần đây, sự phát triển nhanh của mạng xã hội, môi trường số và các loại hình giải trí trực tuyến đã tạo nên nhiều cơ hội tiếp cận văn hóa, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít nguy cơ về lệch chuẩn giá trị, xuống cấp đạo đức và lối sống thực dụng. Thực tế ấy khiến yêu cầu xây dựng con người trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Nghị quyết 80 không nhìn văn hóa chỉ như những hoạt động biểu diễn, lễ hội hay phong trào bề nổi, mà nhấn mạnh nhiệm vụ nuôi dưỡng nhân cách, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tạo nên "hệ quy chiếu" chung cho toàn xã hội trong bối cảnh đời sống hiện đại đang xuất hiện nhiều biểu hiện lúng túng, lệch chuẩn.
Điểm đáng chú ý khác là lần đầu tiên vấn đề "môi trường văn hóa số" được đặt ra một cách rõ nét. Nghị quyết yêu cầu xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch không gian văn hóa trên môi trường mạng. Điều đó cho thấy tầm nhìn đi trước một bước của nghị quyết trước sự phát triển cực nhanh của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo hiện nay.
Nếu trước đây, bảo tồn văn hóa thường gắn với việc gìn giữ di sản, thì nay bài toán đặt ra là làm thế nào để văn hóa dân tộc có thể tồn tại và phát triển trong môi trường số toàn cầu mà không đánh mất bản sắc.
Nghị quyết 80 cũng thể hiện rõ tư duy biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Văn hóa Việt Nam không khép mình trong sự hoài niệm quá khứ, mà phải vươn lên hiện đại từ chính nền tảng truyền thống dân tộc.
Điều đó được thể hiện qua việc nghị quyết nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu "hiện đại" trong phát triển các lĩnh vực văn hóa như công nghiệp văn hóa, thiết chế văn hóa, văn học nghệ thuật, không gian sáng tạo nội dung số… Đây không đơn thuần là thay đổi hình thức mà là đòi hỏi về tư duy phát triển mới: văn hóa phải bắt nhịp với thời đại, tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sức mạnh văn hóa ngày càng trở thành một phần quan trọng của sức mạnh quốc gia. Vì thế, Nghị quyết 80 đặt ra yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, đưa văn hóa hiện diện trong toàn bộ hoạt động đối ngoại. Đây là hướng đi thể hiện khát vọng đưa văn hóa Việt Nam đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại.
Để hiện thực hóa những mục tiêu lớn ấy, Nghị quyết 80 đồng thời nhấn mạnh ba yếu tố nền tảng: hạ tầng văn hóa, nguồn lực đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, yêu cầu xây dựng các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia, ngang tầm khu vực và quốc tế cho thấy quyết tâm tạo ra những không gian văn hóa mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Song song với đó là nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhân lực văn hóa có trình độ cao, có tư duy hiện đại và khả năng hội nhập quốc tế. Bởi suy cho cùng, mọi chiến lược phát triển văn hóa đều phải bắt đầu từ con người – những người sáng tạo, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa.
Có thể thấy, Nghị quyết 80 không chỉ đưa ra những định hướng phát triển văn hóa theo chiều rộng mà còn đặt ra yêu cầu nâng tầm chất lượng phát triển theo chiều sâu. Đó là tầm nhìn của một nền văn hóa vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, vừa đủ năng lực thích ứng với thời đại số; vừa nuôi dưỡng con người Việt Nam nhân văn, hiện đại, vừa tạo nên sức mạnh mềm cho quốc gia trong tương lai.
Trong hành trình phát triển đất nước, văn hóa chưa bao giờ đứng ngoài cuộc. Và với tinh thần mới của Nghị quyết 80, văn hóa đang được đặt vào đúng vị trí của một động lực chiến lược – nơi kết tinh khát vọng phát triển, bản lĩnh dân tộc và sức mạnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới.